Điều 157. Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật
1.79 Người nào bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 153 và Điều 377 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
2.80 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
c) Đối với người đang thi hành công vụ;
d) Phạm tội 02 lần trở lên;
đ) Đối với 02 người trở lên;
e) Đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;
g) Làm cho người bị bắt, giữ, giam hoặc gia đình họ lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn;
h) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của người bị bắt, giữ, giam mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%.
3.81 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:
a) Làm người bị bắt, giữ, giam chết hoặc tự sát;
b) Tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục nhân phẩm của người bị bắt, giữ, giam;
c) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của người bị bắt, giữ, giam mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.
4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
DẤU HIỆU PHÁP LÝ :
Tội bắt, giữ
hoặc giam người trái pháp luật được quy định tại Điều 157 Bộ luật Hình sự
2015 (sửa đổi, bổ sung 2017). Để xác định hành vi có cấu thành tội phạm này
hay không, cần phân tích 4 yếu tố cấu thành (dấu hiệu pháp lý) sau đây:
1. Khách
thể của tội phạm
- Đối tượng xâm phạm: Tội phạm này xâm phạm trực tiếp
đến quyền tự do thân thể của công dân. Đây là quyền hiến định, theo
đó không ai bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án, quyết định hoặc phê
chuẩn của Viện kiểm sát (trừ trường hợp phạm tội quả tang).
- Hậu quả gián tiếp: Có thể gây ảnh hưởng đến uy tín
của cơ quan nhà nước, tính mạng, sức khỏe hoặc danh dự, nhân phẩm của người
bị hại.
2. Mặt
khách quan của tội phạm
Mặt khách
quan thể hiện qua các hành vi nhằm tước bỏ quyền tự do dịch chuyển của người
khác mà không có căn cứ pháp luật:
- Hành vi bắt người trái pháp luật: Khống chế người khác để áp giải
họ về một địa điểm nhất định (thường dùng vũ lực, đe dọa hoặc thủ đoạn
khác).
- Hành vi giữ người trái pháp luật: Ngăn cản, không cho người đang
bị bắt hoặc đang ở một địa điểm nhất định được đi nơi khác trong một khoảng
thời gian ngắn.
- Hành vi giam người trái pháp luật: Nhốt người bị hại vào một nơi
cách ly với thế giới bên ngoài (buồng giam, phòng kín, kho...) trong một
thời gian nhất định.
Lưu ý: Tội phạm này có cấu thành hình thức.
Chỉ cần thực hiện một trong các hành vi trên là tội phạm đã hoàn thành, không bắt
buộc phải gây ra hậu quả cụ thể về sức khỏe hay vật chất.
3. Mặt chủ
quan của tội phạm
- Lỗi: Tội phạm được thực hiện với lỗi
cố ý trực tiếp. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là
trái pháp luật, tước đoạt quyền tự do của người khác nhưng vẫn mong muốn
thực hiện.
- Động cơ, mục đích: Không phải là dấu hiệu bắt buộc
trong cấu thành cơ bản. Tuy nhiên, nếu bắt người nhằm mục đích chiếm đoạt
tài sản thì có thể cấu thành tội Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản
(Điều 169).
4. Chủ thể
của tội phạm
- Chủ thể thường: Người từ đủ 16 tuổi trở lên và
có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ.
- Chủ thể đặc biệt: Người có chức vụ, quyền hạn
trong các cơ quan bảo vệ pháp luật nhưng thực hiện việc bắt, giữ, giam người
không đúng trình tự, thủ tục hoặc không có lệnh hợp pháp.
Các tình
tiết tăng nặng đáng lưu ý (Khoản 2, 3)
Hình phạt sẽ
nặng hơn nếu thuộc các trường hợp như:
- Có tổ chức.
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn.
- Đối với người đang thi hành công
vụ.
- Đối với người dưới 18 tuổi, phụ
nữ mà biết là có thai, người già yếu.
- Gây rối loạn tâm thần và hành vi
của nạn nhân (từ 11% trở lên).
- Làm nạn nhân tự sát hoặc gây chết
người.
Bạn có muốn
tôi phân tích sâu hơn về sự khác biệt giữa tội danh này và tội Bắt cóc nhằm
chiếm đoạt tài sản không?
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét