DẤU HIỆU PHÁP LÝ :
3.2.3. Hiệu lực
của Bộ luật Hình sự Việt Nam
Bất kỳ một văn bản quy phạm pháp
luật nào được ban hành cũng đều phải xác định rõ phạm vi tác động về không
gian, thời gian và đối tượng tác động của văn bản pháp luật đó. Đó chính là hiệu
lực về không gian và hiệu lực về thời gian của văn bản quy phạm pháp luật.
3.2.3.1. Hiệu lực
về không gian của Bộ luật Hình sự Việt Nam
Hiệu lực của Bộ luật Hình sự về
không gian được xây dựng dựa trên hai nguyên tắc cơ bản: nguyên tắc lãnh thổ
và nguyên tắc quốc tịch. Chính vì vậy, khi nói đến hiệu lực về
không gian của Bộ luật Hình sự Việt Nam là chúng ta đi tìm câu trả lời cho câu
hỏi:
- Bộ luật Hình sự Việt
Nam được áp dụng đối với ai về vấn đề quốc tịch của họ?
- Đối với những
hành vi phạm tội xảy ra ở đâu?
Nội dung cơ bản của nguyên tắc
lãnh thổ thể hiện ở chỗ mọi hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đều thuộc phạm vi áp dụng của các Bộ luật Hình sự
Việt Nam. Điều đó được quy định xuất phát từ tính toàn vẹn về chủ quyền
của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đối với lãnh thổ của mình, tức là dựa
trên nguyên tắc chủ quyền quốc gia đã được quy định tại Điều 1 của Hiến pháp
năm 2013: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập, có chủ
quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển và
vùng trời”.
Nguyên tắc lãnh
thổ kết hợp với nguyên tắc quốc tịch tạo thành cơ sở
đầy đủ cho việc quy định hiệu lực của đạo luật hình sự về không gian. Nội dung
cơ bản của nguyên tắc quốc tịch thể hiện ở chỗ, mọi công dân Việt Nam chịu
trách nhiệm hình sự theo pháp luật hình sự Việt Nam dù họ thực hiện tội phạm bất
kỳ ở đâu trên lãnh thổ Việt Nam. Trong những trường hợp công dân Việt Nam phạm
tội ở ngoài lãnh thổ Việt Nam thì họ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự tại
Việt Nam theo Bộ luật Hình sự Việt Nam. Đối với những trường hợp đó, ngoài những
quy định chung của Bộ luật Hình sự, còn có những quy định khác là các Hiệp định
tương trợ tư pháp về dân sự, hôn nhân gia đình và hình sự giữa nước Cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam và các nước. Nguyên tắc quốc tịch thể
hiện mối quan hệ pháp lý giữa Nhà nước và công dân, làm phát sinh quyền và
nghĩa vụ của công dân. Xuất phát từ nguyên lý này, Bộ luật Hình sự Việt Nam quy
định vấn đề hiệu lực về không gian của đạo luật hình sự cụ thể như sau:
- Đối với hành
vi phạm tội xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam. Trước hết, cần phải hiểu phạm vi
lãnh thổ Việt Nam là gì?
Theo quy định tại Điều 1 của Hiến
pháp năm 2013 và theo pháp luật quốc tế có thể hiểu lãnh thổ quốc gia Việt Nam
bao gồm: Vùng đất, vùng nước, vùng trời và vùng lòng đất thuộc chủ quyền của Việt
Nam. Phạm vi không gian này được gọi là lãnh thổ thuộc phạm trù pháp lý, hay
lãnh thổ có thực, hay lãnh thổ thuộc phạm vi không gian tĩnh.
Điểm mới của Bộ luật Hình sự năm
2015 so với Bộ luật Hình sự năm 1999 thể hiện nội dung ở khoản 1 Điều 5, đó là:
“Quy định này cũng được áp dụng đối với hành vi phạm tội hoặc hậu quả của hành
vi phạm tội xảy ra trên tàu bay, tàu biển mang quốc tịch Việt Nam hoặc tại vùng
đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam”. Điều đó cho thấy, phạm vi không
gian làm phát sinh hiệu lực của Bộ luật Hình sự đã được mở rộng trực tiếp trong
điều luật này. Cũng từ đó xuất hiện phạm trù lãnh thổ mở rộng, hay phạm
vi lãnh thổ trạng thái động.Theo đó, lãnh thổ mở rộng hay lãnh thổ trạng
thái động bao gồm: Tàu thuỷ mang cờ hiệu của Việt Nam đang ở ngoài
vùng biển quốc tế; máy bay dân dụng mang cờ hiệu của Việt Nam đang bay
trên đường bay; Lãnh sự quán, Đại sứ quán của Việt Nam ở nước ngoài. Được coi
là hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam có thể chỉ là bắt đầu hoặc
kết thúc hoặc diễn ra một phần hành vi phạm tội, hoặc hậu quả xảy ra trong phạm
vi không gian nói trên.
Về nguyên tắc áp dụng đối với những
hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ của Việt Nam được quy định tại khoản 1
Điều 5 Bộ luật Hình sự năm 2015, theo đó, Bộ luật Hình sự có hiệu lực tuyệt
đối với mọi hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam dù người
đó là công dân Việt Nam, người nước ngoài, hay người không quốc tịch thường trú
ở Việt Nam. Tuy nhiên, đối với đối tượng là người nước ngoài được hưởng các quyền
miễn trừ ngoại giao hoặc lãnh sự là trường hợp ngoại lệ được quy định ở khoản 2
Điều 5 Bộ luật Hình sự năm 2015: “Đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh
thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thuộc đối tượng được hưởng quyền miễn
trừ ngoại giao hoặc lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc theo tập quán quốc tế, thì vấn đề trách
nhiệm hình sự của họ được giải quyết theo quy định của điều ước quốc tế hoặc
theo tập quán quốc tế đó; trường hợp điều ước quốc tế đó không quy định hoặc
không có tập quán quốc tế thì trách nhiệm hình sự của họ được giải quyết bằng
con đường ngoại giao”.
Như vậy, Bộ luật Hình sự có các
quy định ngoại lệ đối với các đối tượng được hưởng quyền miễn trừ tư pháp với
02 nhóm như sau:
+ Theo pháp luật Việt Nam và điều
ước quốc tế mà Việt Nam tham gia (pháp lệnh về quyền ưu đãi, miễn trừ dành cho
cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự và cơ quan đại diện của tổ chức quốc
tế tại Việt Nam) thì những đối tượng được hưởng các đặc quyền ngoại giao là các
thành viên của đoàn ngoại giao.
+ Theo thông lệ quốc tế thì vợ
hoặc chồng hoặc con chưa thành niên của những người kể trên cũng được
hưởng quyền miễn trừ tư pháp.
- Đối với hành
vi phạm tội xảy ra ngoài lãnh thổ Việt Nam
Hiệu lực của Bộ luật Hình sự đối
với những hành vi phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam được quy định tại khoản 1 Điều 6, theo đó, công dân Việt Nam hoặc người không
quốc tịch thường trú ở Việt Nam, hoặc pháp nhân thương mại Việt Nam phạm tội
ngoài lãnh thổ Việt Nam có thể phải chịu trách nhiệm hình sự nếu tội đã thực hiện
được quy định trong Bộ luật Hình sự. Vì theo nguyên tắc quốc tịch thì công dân
Việt Nam phải tuân thủ pháp luật Việt Nam dù ở bất kỳ nơi nào, đồng thời phải
tuân thủ pháp luật ở nước sở tại.
Khoản 2 Điều 6 của Bộ luật Hình sự
năm 2015 xác lập: đối với người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài khi phạm tội ở
ngoài lãnh thổ Việt Nam, có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự tại Việt Nam theo
quy định của Bộ luật Hình sự Việt Nam nếu thuộc một trong các trường hợp sau:
+ Hành vi phạm tội xâm hại quyền,
lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam. Bởi theo nguyên tắc quốc tịch, Bộ luật
Hình sự Việt Nam có hiệu lực đối với tội phạm xảy ra ngoài lãnh thổ Việt Nam mà
nạn nhân của tội phạm là công dân Việt Nam.
+ Hành vi xâm hại lợi ích của nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Bởi theo nguyên tắc đảm bảo an ninh quốc
gia, Bộ luật Hình sự Việt Nam vẫn có hiệu lực đối với tội phạm xảy ra ngoài
lãnh thổ Việt Nam nếu xâm hại lợi ích của nhà nước Việt Nam mà trước hết là độc
lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của tổ quốc.
+ Hoặc theo quy định của điều ước
quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Đó là những tội phạm
quốc tế được quy định tại Chương XXVI Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 2015 và một
số tội phạm có tính quốc tế được quy định trong một số chương khác của Bộ luật
Hình sự Việt Nam như tội khủng bố (Điều 299), tội rửa tiền (Điều 324), tội mua
bán trái phép chất ma túy (Điều 251).
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét