Điều 233. Tội vi phạm quy định về quản lý rừng195
1. Người nào lợi dụng hoặc lạm dụng chức vụ, quyền hạn thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Giao rừng, thu hồi rừng, cho thuê rừng trái pháp luật từ 20.000 mét vuông (m2) đến dưới 25.000 mét vuông (m2) đối với rừng sản xuất; từ 15.000 mét vuông (m2) đến dưới 20.000 mét vuông (m2) đối với rừng phòng hộ hoặc từ 10.000 mét vuông (m2) đến dưới 15.000 mét vuông (m2) đối với rừng đặc dụng;
b) Cho phép chuyển mục đích sử dụng rừng trái pháp luật từ 10.000 mét vuông (m2) đến dưới 12.500 mét vuông (m2) đối với rừng sản xuất; từ 7.500 mét vuông (m2) đến dưới 10.000 mét vuông (m2) đối với rừng phòng hộ hoặc từ 5.000 mét vuông (m2) đến dưới 7.500 mét vuông (m2) đối với rừng đặc dụng;
c) Cho phép khai thác, vận chuyển lâm sản trái pháp luật thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 232 của Bộ luật này;
d) Giao rừng, thu hồi rừng, cho thuê rừng, cho phép chuyển mục đích sử dụng rừng trái pháp luật hoặc cho phép khai thác, vận chuyển lâm sản trái pháp luật dưới mức quy định tại điểm a, điểm b khoản này và các điểm từ điểm a đến điểm 1 khoản 1 Điều 232 của Bộ luật này nhưng đã bị xử lý kỷ luật về một trong các hành vi quy định tại Điều này mà còn vi phạm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Phạm tội 02 lần trở lên;
c) Giao rừng, thu hồi rừng, cho thuê rừng trái pháp luật từ 25.000 mét vuông (m2) đến dưới 40.000 mét vuông (m2) đối với rừng sản xuất; từ 20.000 mét vuông (m2) đến dưới 30.000 mét vuông (m2) đối với rừng phòng hộ hoặc từ 15.000 mét vuông (m2) đến dưới 25.000 mét vuông (m2) đối với rừng đặc dụng;
d) Cho phép chuyển mục đích sử dụng rừng trái pháp luật từ 12.500 mét vuông (m2) đến dưới 17.000 mét vuông (m2) đối với rừng sản xuất; từ 10.000 mét vuông (m2) đến dưới 15.000 mét vuông (m2) đối với rừng phòng hộ hoặc từ 7.500 mét vuông (m2) đến dưới 12.000 mét vuông (m2) đối với rừng đặc dụng;
đ) Cho phép khai thác, vận chuyển lâm sản trái pháp luật thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm 1 khoản 2 Điều 232 của Bộ luật này.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:
a) Giao rừng, thu hồi rừng, cho thuê rừng trái pháp luật 40.000 mét vuông (m2) trở lên đối với rừng sản xuất; 30.000 mét vuông (m2) trở lên đối với rừng phòng hộ hoặc 25.000 mét vuông (m2) trở lên đối với rừng đặc dụng;
b) Cho phép chuyển mục đích sử dụng rừng trái pháp luật 17.000 mét vuông (m2) trở lên đối với rừng sản xuất; 15.000 mét vuông (m2) trở lên đối với rừng phòng hộ hoặc 12.000 mét vuông (m2) trở lên đối với rừng đặc dụng;
c) Cho phép khai thác, vận chuyển lâm sản trái pháp luật thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 232 của Bộ luật này.
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
DẤU HIỆU PHÁP LÝ :
Tội vi phạm
quy định về quản lý rừng được quy định tại Điều 233 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa
đổi, bổ sung 2017). Đây là tội danh thuộc nhóm các tội xâm phạm quy định về
quản lý bảo vệ rừng và lâm sản.
Dưới đây là
các dấu hiệu pháp lý đặc trưng để nhận diện tội danh này:
1. Khách
thể của tội phạm
Tội phạm này
xâm phạm đến chế độ quản lý và bảo vệ rừng của Nhà nước. Đối tượng tác động
cụ thể ở đây không phải là hành vi chặt phá trực tiếp, mà là hành vi xâm phạm
các quy định về thủ tục, trình tự quản lý hành chính trong lĩnh vực lâm nghiệp.
2. Mặt
khách quan của tội phạm
Mặt khách
quan được thể hiện qua các hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc thiếu trách
nhiệm thực hiện sai quy định của Nhà nước về:
- Giao rừng, thu hồi rừng, cho
thuê rừng: Thực
hiện không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng hoặc không đúng trình tự,
thủ tục pháp luật quy định.
- Chuyển mục đích sử dụng rừng: Cho phép chuyển đổi diện tích rừng
sang mục đích khác (như làm dự án, nông nghiệp) trái với quy hoạch hoặc
quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
- Cho phép khai thác, vận chuyển
lâm sản: Cấp
phép hoặc phê duyệt việc khai thác, lưu thông lâm sản không đúng quy chuẩn,
vượt định mức hoặc sai nguồn gốc.
Hậu quả bắt
buộc: Hành vi trên
chỉ cấu thành tội phạm khi gây ra thiệt hại về tài sản hoặc diện tích rừng đạt
ngưỡng quy định, cụ thể:
- Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000
đồng trở lên.
- Hoặc diện tích rừng bị xâm phạm
đạt mức quy định tại các điểm b, c, d khoản 1 Điều 233 (tùy loại rừng sản
xuất, rừng phòng hộ hay rừng đặc dụng).
3. Chủ thể
của tội phạm
Đây là chủ
thể đặc biệt, bao gồm những người có chức vụ, quyền hạn trong các cơ quan
quản lý nhà nước về lâm nghiệp hoặc những người được giao nhiệm vụ cụ thể trong
việc quản lý rừng (như cán bộ kiểm lâm, cán bộ địa chính, lãnh đạo UBND các cấp...).
4. Mặt chủ
quan của tội phạm
- Lỗi: Có thể là lỗi cố ý (biết
sai nhưng vẫn làm vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân) hoặc lỗi vô ý (do
thiếu trách nhiệm, không thực hiện đúng quy trình nghiệp vụ dẫn đến hậu quả
nghiêm trọng).
- Động cơ: Thường là động cơ vụ lợi, nể
nang hoặc thiếu ý thức trách nhiệm trong công tác quản lý.
Bảng tóm
tắt khung hình phạt (Điều 233)
|
Khung
hình phạt
|
Hình
phạt chính
|
Dấu hiệu
định khung tiêu biểu
|
|
Khoản 1
|
Cải tạo
không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm
|
Gây thiệt
hại từ 100 triệu đến dưới 500 triệu đồng; hoặc diện tích rừng đáng kể.
|
|
Khoản 2
|
Phạt tù từ
02 năm đến 07 năm
|
Có tổ chức;
Gây thiệt hại từ 500 triệu đến dưới 1,5 tỷ đồng.
|
|
Khoản 3
|
Phạt tù từ
05 năm đến 12 năm
|
Gây thiệt
hại từ 1,5 tỷ đồng trở lên; hoặc diện tích rừng đặc dụng/phòng hộ rất lớn.
|
Lưu ý: Người phạm tội còn có thể chịu hình
phạt bổ sung là phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm
chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Bạn có muốn
tôi phân tích sâu hơn về sự khác biệt giữa tội danh này (Điều 233) và Tội hủy
hoại rừng (Điều 243) để phục vụ việc nghiên cứu hồ sơ không?
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét