Điều 216. Tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động
1. Người nào có nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động mà gian dối hoặc bằng thủ đoạn khác để không đóng hoặc không đóng đầy đủ theo quy định từ 06 tháng trở lên thuộc một trong những trường hợp sau đây, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:
a) Trốn đóng bảo hiểm từ 50.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng;
b) Trốn đóng bảo hiểm cho từ 10 người đến dưới 50 người lao động.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Phạm tội 02 lần trở lên;
b) Trốn đóng bảo hiểm từ 300.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;
c) Trốn đóng bảo hiểm cho từ 50 người đến dưới 200 người lao động;
d) Không đóng số tiền bảo hiểm đã thu hoặc đã khấu trừ của người lao động quy định tại điểm a hoặc điểm b khoản 1 Điều này.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Trốn đóng bảo hiểm 1.000.000.000 đồng trở lên;
b) Trốn đóng bảo hiểm cho 200 người lao động trở lên;
c) Không đóng số tiền bảo hiểm đã thu hoặc đã khấu trừ của người lao động quy định tại điểm b hoặc điểm c khoản 2 Điều này.
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
5. Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:
a) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng;
b) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng;
c) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này, thì bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng.
DẤU HIỆU PHÁP LÝ :
Tội trốn
đóng bảo hiểm cho người lao động quy định tại Điều 216 Bộ luật Hình sự 2015
(sửa đổi, bổ sung 2017) là một tội danh quan trọng nhằm bảo vệ quyền lợi an
sinh xã hội cốt lõi của người lao động trước các hành vi trục lợi hoặc né tránh
trách nhiệm của người sử dụng lao động.
Dưới đây là
phân tích chi tiết các dấu hiệu pháp lý:
1. Khách
thể của tội phạm
- Đối tượng xâm hại: Trật tự quản lý của Nhà nước
trong lĩnh vực bảo hiểm và quyền lợi hợp pháp của người lao động.
- Hậu quả: Khi bị trốn đóng bảo hiểm, người
lao động sẽ mất các quyền lợi về khám chữa bệnh (BHYT), trợ cấp thất nghiệp
(BHTN), chế độ thai sản, tai nạn lao động và đặc biệt là lương hưu sau này
(BHXH).
2. Mặt
khách quan của tội phạm
Tội phạm được
thể hiện qua hành vi gian dối hoặc thủ đoạn khác để không đóng hoặc đóng không
đủ tiền bảo hiểm. Các hành vi cụ thể bao gồm:
- Gian dối để không đóng hoặc đóng
không đủ: Ví dụ
như lập hai hệ thống bảng lương (một bảng lương thực tế và một bảng lương
thấp hơn để đối phó với cơ quan bảo hiểm).
- Không đóng tiền bảo hiểm dù đã
thu của người lao động: Người sử dụng lao động đã trừ tiền bảo hiểm vào lương của
nhân viên nhưng lại giữ lại để chi dùng việc khác mà không nộp cho cơ quan
bảo hiểm.
- Thời gian trốn đóng: Phải từ 06 tháng trở lên.
Điều kiện
truy cứu trách nhiệm hình sự (Định lượng):
Hành vi chỉ
bị xử lý hình sự khi thỏa mãn một trong các ngưỡng:
- Trốn đóng số tiền từ 50.000.000
đồng trở lên.
- Trốn đóng cho từ 10 người lao
động trở lên.
- Đã bị xử phạt vi phạm hành chính
về hành vi này mà còn vi phạm.
3. Mặt chủ
quan của tội phạm
- Lỗi: Cố ý trực tiếp. Người phạm
tội biết rõ nghĩa vụ phải đóng bảo hiểm nhưng đã dùng thủ đoạn để né tránh
nhằm cắt giảm chi phí doanh nghiệp hoặc chiếm dụng vốn.
- Mục đích: Vụ lợi. Giảm chi phí
nhân công trái pháp luật để tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp hoặc cá nhân.
4. Chủ thể
của tội phạm
- Cá nhân: Thường là người có thẩm quyền
quyết định việc đóng bảo hiểm trong doanh nghiệp (Chủ tịch HĐQT, Giám đốc,
Kế toán trưởng).
- Pháp nhân thương mại: Đây là một trong các tội danh
mà doanh nghiệp (pháp nhân) phải chịu trách nhiệm hình sự (theo Điều
76 BLHS).
5. Phân
biệt với Tội gian lận bảo hiểm (Điều 214, 215)
Đây là ranh
giới dễ gây nhầm lẫn trong các bài tập tình huống:
|
Tiêu
chí
|
Tội trốn
đóng (Điều 216)
|
Tội
gian lận (Điều 214, 215)
|
|
Dòng tiền
|
Ngăn dòng
tiền từ doanh nghiệp chảy vào quỹ.
|
Tìm cách
rút tiền từ quỹ chảy ra túi cá nhân.
|
|
Hành vi
|
Giấu bớt
người, giấu bớt lương.
|
Giả mạo hồ
sơ thai sản, bệnh án để đòi tiền.
|
|
Đối tượng
bị thiệt hại
|
Người lao
động và ngân sách quỹ.
|
Trực tiếp
là ngân sách quỹ bảo hiểm.
|
6. Khung
hình phạt
- Đối với cá nhân: * Khung 1: Phạt tiền từ 50 triệu
đến 200 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ
03 tháng đến 01 năm.
- Khung cao nhất: Phạt tù từ 02
năm đến 07 năm (khi trốn đóng trên 1 tỷ đồng hoặc cho trên 100 người).
- Đối với pháp nhân thương mại:
- Phạt tiền từ 200 triệu đến 3 tỷ
đồng.
- Có thể bị đình chỉ hoạt động có
thời hạn hoặc vĩnh viễn tùy theo mức độ vi phạm.
7. Hình
phạt bổ sung
- Phạt tiền từ 20 triệu đến 100
triệu đồng đối với cá nhân.
- Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành
nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Trong thực tế,
Hội đồng Thẩm phán đã có hướng dẫn (Nghị quyết 05/2019/NQ-HĐTP) để xác định số
tiền trốn đóng bao gồm cả tiền lãi chậm đóng để làm căn cứ xử lý.
Bạn có muốn
tôi làm rõ hơn về cách tính số tiền trốn đóng khi doanh nghiệp đóng thiếu
mức lương so với thực tế không? Hay bạn cần tìm hiểu về các trường hợp miễn
trách nhiệm hình sự nếu doanh nghiệp khắc phục hậu quả nộp đủ tiền trước
khi khởi tố?
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét