Điều 391. Tội gây rối trật tự phiên tòa, phiên họp 401 1. Người nào tại phiên tòa, phiên họp mà thóa mạ, xúc phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của Thẩm phán, Hội thẩm, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng khác hoặc người tham gia phiên tòa, phiên họp hoặc có hành vi đập phá tài sản, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 178 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 02 năm. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm: a) Dẫn đến phải dừng phiên tòa, phiên họp; b) Hành hung Thẩm phán, Hội thẩm, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng khác, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 134 của Bộ luật này. (trích BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017) DẤU HIỆU PHÁP LÝ :
Tội gây rối
trật tự phiên tòa, phiên họp được quy định tại Điều 391 Bộ luật Hình sự 2015
(sửa đổi, bổ sung 2017). Đây là tội danh thuộc chương các tội xâm phạm hoạt
động tư pháp, nhằm bảo vệ sự tôn nghiêm của pháp luật và tính liên tục, khách
quan của các hoạt động tố tụng. Dưới đây là
4 dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội danh này: 1. Khách
thể của tội phạm Tội phạm này
xâm phạm đến trật tự, sự tôn nghiêm và hoạt động bình thường của Tòa án
hoặc các cơ quan tiến hành phiên họp (như phiên họp xem xét áp dụng biện pháp xử
lý hành chính tại Tòa án). Ngoài ra, hành vi này còn có thể gián tiếp xâm phạm
đến sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của những người tiến hành tố tụng và người
tham gia tố tụng. 2. Mặt
khách quan của tội phạm Hành vi
khách quan bao gồm các hành động cụ thể tại phiên tòa hoặc phiên họp như:
- Gây rối trật tự: La hét, đập phá bàn ghế, gây
huyên náo, sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực để ngăn cản việc xét
xử/họp.
- Xúc phạm nghiêm trọng: Có lời nói, cử chỉ hạ nhục danh
dự, nhân phẩm của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên hoặc những người
tham gia khác.
- Hành vi khác: Các hành động gây gián đoạn, buộc
Hội đồng xét xử phải tạm dừng hoặc hoãn phiên tòa/phiên họp.
Lưu ý: Để cấu thành tội phạm, hành vi phải
đạt mức độ nghiêm trọng. Nếu chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự,
người vi phạm có thể bị xử phạt hành chính theo Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành
chính đối với hành vi cản trở hoạt động tố tụng. 3. Mặt chủ
quan của tội phạm
- Lỗi: Tội phạm được thực hiện với lỗi
cố ý (có thể là cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp). Người phạm tội
nhận thức được hành vi của mình là gây rối, ảnh hưởng đến sự tôn nghiêm của
phiên tòa nhưng vẫn mong muốn thực hiện hoặc bỏ mặc cho hậu quả xảy ra.
- Động cơ, mục đích: Thường là để phản đối phán quyết
của Tòa án, trả thù cá nhân hoặc cố tình trì hoãn việc xét xử. Tuy nhiên,
động cơ không phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành cơ bản.
4. Chủ thể
của tội phạm
- Là người có năng lực trách
nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo quy định (từ đủ 16 tuổi trở lên).
- Chủ thể có thể là bất kỳ ai: Bị
cáo, đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, người làm chứng hoặc
người dân đến dự khán phiên tòa.
Các khung
hình phạt chính
|
Khung
hình phạt
|
Nội
dung quy định
|
|
Khung 1
|
Phạt tiền
từ 10.000.000đ - 100.000.000đ, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt
tù từ 06 tháng - 02 năm.
|
|
Khung 2
|
Phạt tù từ 01 năm - 03 năm nếu phạm tội thuộc các trường hợp: dẫn đến phải dừng phiên
tòa/phiên họp; gây thương tích cho người khác (tỷ lệ 11% trở lên); hoặc tái
phạm nguy hiểm.
|
Ngoài ra,
tùy vào tính chất và mức độ, người phạm tội có thể bị áp dụng các hình phạt bổ
sung như phạt tiền (khi không áp dụng là hình phạt chính). Luật Gia Vlog - Kiettan Nguyen-tổng hợp & phân tích |
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét