Thứ Tư, 29 tháng 11, 2023

Điều 373. Tội dùng nhục hình

Điều 373. Tội dùng nhục hình

1. Người nào trong hoạt động tố tụng, thi hành án hoặc thi hành các biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc mà dùng nhục hình hoặc đối xử tàn bạo, hạ nhục nhân phẩm của người khác dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Phạm tội 02 lần trở lên;

b) Đối với 02 người trở lên;

c) Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt;

d) Đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại về sức khỏe cho người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 60%.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại về sức khỏe cho người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

b) Làm người bị nhục hình tự sát.

4. Phạm tội làm người bị nhục hình chết, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.

5. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

(trích BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017)
PHẦN BÌNH LUẬN & PHÂN TÍCH :

DẤU HIỆU PHÁP LÝ :

Tội dùng nhục hình được quy định tại Điều 373 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017). Đây là hành vi xâm phạm nghiêm trọng đến quyền con người và hoạt động đúng đắn của cơ quan tư pháp.

Dưới đây là các dấu hiệu pháp lý chi tiết:

1. Khách thể của tội phạm

  • Quyền bất khả xâm phạm về thân thể: Xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng, danh dự và nhân phẩm của con người.
  • Hoạt động tư pháp: Làm suy yếu uy tín của các cơ quan Nhà nước, đi ngược lại nguyên tắc nhân đạo trong tố tụng và thi hành án.

2. Mặt khách quan của tội phạm

Hành vi khách quan thể hiện qua việc người có thẩm quyền tra tấn, đánh đập hoặc dùng các thủ đoạn khác gây đau đớn về thể xác hoặc tinh thần cho người khác.

  • Đối tượng bị tác động: Người bị tạm giữ, tạm giam, bị can, bị cáo, người đang chấp hành án phạt tù, người bị thi hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc cơ sở cai nghiện bắt buộc.
  • Hành vi cụ thể: 
    • Dùng vũ lực (đấm, đá, dùng dùi cui, roi...).
    • Bắt nhịn ăn, nhịn uống, không cho ngủ, bắt phơi nắng, tắm lạnh...
    • Sỉ nhục, đe dọa, gây áp lực tâm lý cực độ.

Thời điểm hoàn thành: Tội phạm hoàn thành ngay khi hành vi dùng nhục hình xảy ra, không bắt buộc phải có thương tích cụ thể (trừ trường hợp hành vi đó cấu thành tội giết người hoặc cố ý gây thương tích nếu có mục đích khác).

3. Chủ thể của tội phạm

Đây là chủ thể đặc biệt, là người có thẩm quyền trong hoạt động tư pháp, thi hành án hoặc quản lý người bị tạm giữ, tạm giam:

  • Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán.
  • Cán bộ quản giáo, chiến sĩ cảnh sát áp giải, dẫn giải.
  • Người có thẩm quyền trong các cơ sở giáo dục, cai nghiện bắt buộc.

4. Mặt chủ quan của tội phạm

  • Lỗi: Là lỗi cố ý. Người phạm tội nhận thức được hành vi của mình gây đau đớn cho nạn nhân nhưng vẫn thực hiện.
  • Mục đích: Thường nhằm ép buộc khai báo (xác nhận chứng cứ), trả thù cá nhân, hoặc để thiết lập trật tự kỷ luật một cách trái pháp luật.

5. Các khung hình phạt (Cập nhật 2025)

Mức độ hình phạt được phân loại dựa trên tính chất nghiêm trọng của hành vi và hậu quả gây ra:

Khung hình phạt

Tình tiết định khung

Hình phạt chính

Khung 1 (Khoản 1)

Hành vi dùng nhục hình cơ bản.

Phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Khung 2 (Khoản 2)

Phạm tội từ 02 lần trở lên; Đối với 02 người trở lên; Đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, người khuyết tật; Gây thương tích (tỉ lệ từ 11% đến 30%).

Phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

Khung 3 (Khoản 3)

Gây thương tích (tỉ lệ từ 31% đến 60%); Dùng thủ đoạn tàn ác.

Phạt tù từ 07 năm đến 12 năm.

Khung 4 (Khoản 4)

Gây thương tích (tỉ lệ từ 61% trở lên); Làm nạn nhân chết hoặc tự sát.

Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.

Hình phạt bổ sung: Cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.


Phân biệt với Tội cưỡng ép khai báo (Điều 374)

Hai tội danh này thường xảy ra đồng thời nhưng có sự khác biệt về dấu hiệu pháp lý:

  • Tội dùng nhục hình (Điều 373): Trọng tâm là hành vi gây đau đớn về thể xác/tinh thần. Nạn nhân có thể là bất kỳ ai đang bị quản lý bởi cơ quan tư pháp.
  • Tội cưỡng ép khai báo (Điều 374): Trọng tâm là mục đích buộc phải khai báo. Nhục hình có thể là phương tiện để đạt được mục đích này. Nếu dùng nhục hình để cưỡng ép khai báo gây hậu quả nghiêm trọng, người phạm tội có thể bị truy tố về cả hai tội hoặc tội danh có khung hình phạt nặng hơn tùy trường hợp cụ thể.

Với vai trò là người đang nghiên cứu cao học về luật, bạn có thể thấy rằng Điều 373 là công cụ pháp lý quan trọng nhất để bảo vệ quyền con người trước các hành vi lạm quyền trong hoạt động tư pháp.

Luật Gia Vlog - Kiettan Nguyen-tổng hợp & phân tích
VIDEO :
(đang cập nhật)
TÀI LIỆU THAM KHẢO :
(đang cập nhật)
VĂN BẢN LIÊN QUAN :
(đang cập nhật)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét