1.163 Người nào thực hiện
một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tiền bảo hiểm từ 20.000.000 đồng đến
dưới 100.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại từ 50.000.000 đồng đến dưới
200.000.000 đồng, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 174, 353 và
355 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng
hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm:
a) Thông đồng với người thụ hưởng quyền lợi
bảo hiểm để giải quyết bồi thường bảo hiểm, trả tiền bảo hiểm trái pháp luật;
b) Giả mạo tài liệu, cố ý làm sai lệch
thông tin để từ chối bồi thường, trả tiền bảo hiểm khi sự kiện bảo hiểm đã xảy
ra;
c) Giả mạo tài liệu, cố ý làm sai lệch thông
tin trong hồ sơ yêu cầu bồi thường, trả tiền bảo hiểm;
d) Tự gây thiệt hại về tài sản, sức khỏe
của mình để hưởng quyền lợi bảo hiểm, trừ trường
hợp luật có quy định khác.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp
sau đây, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù
từ 01 năm đến 03 năm:
a) Có tổ chức;
b) Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt;
c) Chiếm đoạt số tiền bảo hiểm từ
100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
d) Gây thiệt hại từ 200.000.000 đồng đến
dưới 1.000.000.000 đồng;
đ) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp
sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:
a) Chiếm đoạt số tiền bảo hiểm 500.000.000
đồng trở lên;
b) Gây thiệt hại 1.000.000.000 đồng trở
lên.
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền
từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề
hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
5.164 Pháp nhân thương
mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:
a) Thực hiện một trong các hành vi quy định
tại khoản 1 Điều này chiếm đoạt số tiền bảo hiểm từ 200.000.000 đồng đến dưới
1.000.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại từ 400.000.000 đồng đến dưới
2.000.000.000 đồng, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000
đồng;
b) Phạm tội thuộc một trong các trường hợp
quy định tại các điểm a, b và đ khoản 2 Điều này hoặc chiếm đoạt số tiền bảo
hiểm từ 1.000.000.000 đồng đến dưới 3.000.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại từ
2.000.000.000 đồng đến dưới 5.000.000.000 đồng, thì bị phạt tiền từ
1.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng;
c) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại
khoản 3 Điều này chiếm đoạt số tiền bảo hiểm 3.000.000.000 đồng trở lên hoặc
gây thiệt hại 5.000.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 3.000.000.000
đồng đến 7.000.000.000 đồng;
d) Pháp nhân thương mại còn có thể bị cấm
kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn
từ 01 năm đến 03 năm.
DẤU HIỆU PHÁP LÝ :
Tội gian lận
trong kinh doanh bảo hiểm quy định tại Điều 213 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi,
bổ sung 2017) là một tội danh tương đối mới, nhằm bảo vệ sự an toàn của thị
trường bảo hiểm và ngăn chặn các hành vi trục lợi bảo hiểm đang có xu hướng gia
tăng.
Dưới đây là
phân tích chi tiết các dấu hiệu pháp lý:
1. Khách
thể của tội phạm
- Đối tượng xâm hại: Trật tự quản lý kinh tế của Nhà
nước trong lĩnh vực bảo hiểm; quyền và lợi ích hợp pháp của các doanh nghiệp
bảo hiểm cũng như của cộng đồng những người tham gia bảo hiểm.
- Ý nghĩa: Bảo hiểm hoạt động dựa trên
nguyên tắc chia sẻ rủi ro và sự trung thực tuyệt đối. Hành vi gian lận làm
suy yếu khả năng tài chính của doanh nghiệp và gây bất công cho người mua
bảo hiểm chân chính.
2. Mặt
khách quan của tội phạm
Điều luật liệt
kê 5 nhóm hành vi gian dối điển hình để trục lợi tiền bảo hiểm:
- Thông đồng với người thụ hưởng: Để giải quyết bồi thường bảo hiểm,
trả tiền bảo hiểm trái pháp luật.
- Tự gây thiệt hại về tài sản, sức
khỏe: Người được
bảo hiểm tự hủy hoại tài sản hoặc gây thương tích cho bản thân để đòi tiền
bồi thường (ví dụ: tự đốt nhà, tự chặt ngón tay...).
- Giả mạo tài liệu, hồ sơ: Lập hồ sơ bệnh án giả, hóa đơn
sửa chữa xe giả hoặc làm giả các chứng từ liên quan đến sự kiện bảo hiểm.
- Nội dung sự kiện bảo hiểm sai sự
thật: Khai báo
sai lệch về thời gian, địa điểm hoặc nguyên nhân xảy ra sự cố (ví dụ: tai
nạn xảy ra trước khi mua bảo hiểm nhưng khai báo sau khi mua).
- Tự dàn dựng sự kiện bảo hiểm: Tạo ra các hiện trường giả (ví
dụ: dàn dựng một vụ trộm cắp hoặc tai nạn giao thông ảo).
Điều kiện
truy cứu trách nhiệm hình sự (Cấu thành vật chất): Hành vi chỉ bị xử lý hình sự khi thỏa
mãn một trong các ngưỡng:
- Chiếm đoạt tiền bảo hiểm từ 20.000.000
đồng trở lên.
- Gây thiệt hại từ 50.000.000 đồng
trở lên.
- Hoặc đã bị xử phạt hành chính/kết
án chưa được xóa án tích về hành vi này.
3. Mặt chủ
quan của tội phạm
- Lỗi: Cố ý trực tiếp. Người phạm
tội nhận thức rõ hành vi của mình là gian dối và mong muốn chiếm đoạt tiền
bảo hiểm.
- Mục đích: Trục lợi. Đây là dấu hiệu
bắt buộc. Người phạm tội muốn nhận được một khoản tiền mà đáng lẽ họ không
được hưởng nếu thông tin trung thực.
4. Chủ thể
của tội phạm
- Cá nhân: Người từ đủ 16 tuổi trở lên có
năng lực trách nhiệm hình sự. Có thể là người mua bảo hiểm, người thụ hưởng,
hoặc thậm chí là nhân viên công ty bảo hiểm (đồng phạm).
- Pháp nhân thương mại: Đây là tội danh mà pháp nhân
thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự (theo Điều 76 BLHS).
5. Phân
biệt với Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174)
Gian lận bảo
hiểm thực chất là một dạng "lừa đảo đặc thù", nhưng được tách riêng để
xử lý chuyên biệt:
|
Tiêu chí
|
Tội tại
Điều 213
|
Tội lừa đảo
(Điều 174)
|
|
Môi trường
|
Chỉ trong
quan hệ hợp đồng bảo hiểm.
|
Bất kỳ
quan hệ xã hội nào.
|
|
Thủ đoạn
|
Gian dối về
đối tượng bảo hiểm hoặc sự kiện bảo hiểm.
|
Dùng mọi
thủ đoạn để lấy tài sản.
|
|
Ngưỡng
hình sự
|
Từ 20
triệu đồng (chiếm đoạt).
|
Từ 02
triệu đồng.
|
Nguyên tắc
áp dụng: Nếu hành vi
thỏa mãn các dấu hiệu đặc thù của Điều 213 thì phải áp dụng Điều 213 thay vì Điều
174.
6. Khung
hình phạt
- Cá nhân: Phạt tiền từ 30 triệu đến 100
triệu đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm. Khung cao nhất có
thể lên đến 07 năm tù.
- Pháp nhân: Phạt tiền từ 200 triệu đến 7 tỷ
đồng; có thể bị đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc vĩnh viễn.
7. Hình
phạt bổ sung
- Phạt tiền từ 10 triệu đến 100
triệu đồng.
- Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành
nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Trong thực
tiễn, việc chứng minh hành vi "tự gây thiệt hại" (như tự đốt
xưởng để lấy tiền bảo hiểm cháy nổ) thường rất khó khăn và đòi hỏi công tác
giám định hiện trường cực kỳ chi tiết.
Bạn có muốn
tôi làm rõ thêm về cách xác định "Gây thiệt hại" (khác với số
tiền chiếm đoạt) trong tội danh này không? Hay bạn muốn tìm hiểu về một vụ án
trục lợi bảo hiểm điển hình để thấy rõ quy trình điều tra?
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét