Điều 163. Tội xâm phạm quyền hội họp, lập hội của công dân 1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác ngăn cản hoặc ép buộc người khác lập hội, hội họp hợp pháp, đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì phạt tù từ 01 năm đến 03 năm: a) Có tổ chức; b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn; c) Phạm tội 02 lần trở lên; d) Dẫn đến biểu tình; đ) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. 3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. (trích BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017) DẤU HIỆU PHÁP LÝ :
Tội xâm phạm
quyền hội họp, lập hội của công dân được quy định tại Điều 163 Bộ luật Hình
sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017). Đây là nhóm tội phạm xâm phạm đến các quyền
tự do dân chủ cơ bản của công dân đã được Hiến pháp ghi nhận. Dưới đây là
4 dấu hiệu pháp lý cấu thành tội phạm này:
1. Khách
thể của tội phạm
- Đối tượng xâm phạm: Quyền tự do hội họp và
quyền tự do lập hội của công dân.
- Hội họp: Là việc nhiều người cùng tập hợp
lại ở một địa điểm (công cộng hoặc riêng tư) để trao đổi, thảo luận hoặc
thực hiện một mục đích chung hợp pháp.
- Lập hội: Là việc công dân cùng nhau
thành lập các tổ chức tự nguyện nhằm mục đích nghề nghiệp, sở thích hoặc
xã hội không trái pháp luật.
- Ý nghĩa: Bảo đảm quyền tham gia vào các
hoạt động đời sống chính trị - xã hội của công dân mà không bị cản trở
trái phép.
2. Mặt
khách quan của tội phạm Hành vi
khách quan thể hiện qua việc dùng các thủ đoạn trái pháp luật để ngăn cản công
dân thực hiện các quyền này. Cụ thể:
- Dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ
lực: Đánh đập,
khống chế hoặc dùng lời nói, hành động đe dọa sẽ gây thương tích, thiệt hại
để buộc người khác không được tham gia hội họp hoặc không được gia nhập/thành
lập hội.
- Dùng thủ đoạn khác: Lợi dụng quyền hạn để gây khó
khăn, trì hoãn vô căn cứ việc cấp phép (nếu pháp luật quy định phải cấp
phép), thu giữ tài liệu trái phép, hoặc dùng các biện pháp hành chính
không đúng luật để giải tán các cuộc họp hợp pháp.
Điều kiện
truy cứu trách nhiệm hình sự: Hành vi chỉ bị xử lý hình sự nếu người phạm tội đã bị xử
lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm. 3. Mặt chủ
quan của tội phạm
- Lỗi: Tội phạm được thực hiện với lỗi
cố ý trực tiếp. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là cản
trở quyền tự do của công dân nhưng vẫn thực hiện.
- Động cơ: Thường do định kiến cá nhân, cục
bộ hoặc vì những mục đích chính trị, xã hội không lành mạnh.
4. Chủ thể
của tội phạm
- Chủ thể thường: Người từ đủ 16 tuổi trở lên và
có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ.
- Chủ thể đặc biệt: Thường là những người có chức vụ,
quyền hạn trong các cơ quan quản lý nhà nước về an ninh, trật tự hoặc quản
lý hội (thường là tình tiết tăng nặng tại Khoản 2).
Khung
hình phạt
- Khoản 1 (Khung cơ bản): Phạt cảnh cáo, phạt cải tạo
không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.
- Khoản 2 (Tình tiết tăng nặng): Phạt tù từ 01 năm đến 03 năm nếu
thuộc trường hợp:
- Có tổ chức.
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn.
- Phạm tội 02 lần trở lên.
- Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh,
trật tự, an toàn xã hội.
- Hình phạt bổ sung: Người phạm tội có thể bị cấm đảm
nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05
năm.
Phân biệt
với hành vi giải tán đám đông trái phép Cần lưu ý: Nếu
một cuộc hội họp hoặc việc lập hội là trái pháp luật (ví dụ: hội họp để
gây rối trật tự, lập hội để hoạt động lật đổ chính quyền), thì việc cơ quan chức
năng ngăn chặn là thực thi pháp luật, không cấu thành tội danh này. Điều 163 chỉ
bảo vệ các quyền hội họp, lập hội hợp pháp của công dân. __________________________________ Luật Gia Vlog - Kiettan Nguyen-tổng hợp & phân tích |
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét