Điều 393. Tội ra mệnh lệnh trái pháp luật 1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn ra mệnh lệnh trái pháp luật gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 05 năm. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm: a) Trong chiến đấu; b) Trong khu vực có chiến sự; c) Trong thực hiện nhiệm vụ cứu hộ, cứu nạn; d) Trong tình trạng khẩn cấp; đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng. 3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm. (trích BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017) PHẦN BÌNH LUẬN & PHÂN TÍCH : DẤU HIỆU PHÁP LÝ :
Tội ra mệnh
lệnh trái pháp luật được quy định tại Điều 393 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi,
bổ sung 2017). Đây là tội danh xâm phạm đến nguyên tắc tập trung thống nhất
và chế độ trách nhiệm của người chỉ huy trong quân đội. Dưới đây là
các dấu hiệu pháp lý đặc trưng:
1. Khách
thể của tội phạm
- Đối tượng xâm phạm: Sự hoạt động đúng đắn của các
cơ quan, đơn vị quân đội; kỷ luật quân đội và sự chấp hành mệnh lệnh của cấp
dưới đối với cấp trên.
- Tính chất: Hành vi này làm suy yếu sức mạnh
chiến đấu, gây mất đoàn kết nội bộ và có thể dẫn đến những thiệt hại
nghiêm trọng về người, tài sản hoặc nhiệm vụ quân sự.
2. Mặt
khách quan của tội phạm Hành vi
khách quan thể hiện qua việc người chỉ huy/cấp trên ban hành mệnh lệnh không
đúng quy định:
- Nội dung mệnh lệnh trái pháp luật: Mệnh lệnh vi phạm điều lệnh, điều
lệ quân đội, các quy định của pháp luật hiện hành hoặc vượt quá thẩm quyền
của người ra mệnh lệnh.
- Hình thức mệnh lệnh: Có thể bằng văn bản, bằng lời
nói hoặc bằng tín hiệu, ký hiệu chỉ huy.
- Hậu quả: Đây là tội phạm có cấu thành
vật chất. Hành vi ra mệnh lệnh trái pháp luật chỉ bị truy cứu trách
nhiệm hình sự khi gây hậu quả nghiêm trọng.
- Ví dụ: Gây thiệt hại về tính mạng, sức
khỏe của quân nhân; gây thất thoát vũ khí, trang bị; làm thất bại nhiệm vụ
chiến đấu hoặc diễn tập.
3. Chủ thể
của tội phạm
- Chủ thể đặc biệt: Là người có chức vụ, quyền hạn
trong quân đội (người chỉ huy hoặc người được giao nhiệm vụ chỉ huy tại thời
điểm đó).
- Độ tuổi: Người từ đủ 16 tuổi trở lên có
năng lực trách nhiệm hình sự và thuộc nhóm đối tượng quy định tại Điều
392 (thường là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp giữ chức vụ chỉ huy).
4. Mặt chủ
quan của tội phạm
- Lỗi: Lỗi cố ý (trực tiếp hoặc
gián tiếp). Người phạm tội nhận thức được mệnh lệnh mình đưa ra là
không đúng quy định nhưng vẫn ban hành và mong muốn hoặc để mặc hậu quả xảy
ra.
- Động cơ: Có thể do vụ lợi, do thiếu
trách nhiệm, do áp lực thành tích hoặc các động cơ cá nhân khác.
5. Hình
phạt (Khung hình phạt)
|
Mức độ
vi phạm
|
Hình
phạt chính
|
|
Khung 1
(Cơ bản)
|
Phạt cải tạo
không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 05 năm.
|
|
Khung 2
(rất Nghiêm trọng)
|
Phạt tù từ 03 năm đến 10 năm: (nếu gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc phạm tội
trong chiến đấu/tình trạng khẩn cấp).
|
|
Khung 3
(Đặc biệt nghiêm trọng)
|
Phạt tù từ
07 năm đến 15 năm (nếu gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng).
|
Mối quan
hệ giữa người ra lệnh và người chấp hành Theo nguyên
tắc quân sự và pháp luật hình sự:
- Người ra lệnh: Chịu trách nhiệm chính về hậu
quả của mệnh lệnh trái pháp luật do mình ban hành.
- Người chấp hành: * Nếu biết rõ mệnh lệnh là trái
pháp luật mà vẫn thực hiện thì có thể bị coi là đồng phạm.
- Tuy nhiên, trong môi trường
quân đội đề cao tính phục tùng, nếu người cấp dưới thực hiện mệnh lệnh mà
không biết hoặc không thể biết đó là trái pháp luật thì có thể được miễn
hoặc giảm nhẹ trách nhiệm tùy trường hợp cụ thể.
Lưu ý cho
nghiên cứu cao học: - Cần phân biệt
tội này với Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ (Điều 357). Điểm
khác biệt lớn nhất là tội danh tại Điều 393 diễn ra trong môi trường quân sự,
xâm phạm vào quan hệ mệnh lệnh - phục tùng đặc thù của lực lượng vũ trang và do
Tòa án Quân sự xét xử.
Luật Gia Vlog - Kiettan Nguyen-tổng hợp & phân tích |
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét