Điều 321. Tội đánh bạc
1.332 Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:
a) Có tính chất chuyên nghiệp;
b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 50.000.000 đồng trở lên;
c) Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;
d) Tái phạm nguy hiểm.
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
DẤU HIỆU PHÁP LÝ :
Tội đánh bạc
theo Điều 321 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) là một trong
những tội danh phổ biến thuộc nhóm các tội xâm phạm trật tự công cộng.
Dưới đây là
các dấu hiệu pháp lý đặc trưng:
1. Khách
thể của tội phạm
Tội phạm này
xâm phạm đến trật tự, an toàn công cộng. Hành vi đánh bạc trái phép
không chỉ phá vỡ nếp sống văn minh mà còn là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội
phạm khác như trộm cắp, cướp tài sản, tín dụng đen...
2. Mặt
khách quan của tội phạm
- Hành vi: Được thực hiện dưới bất kỳ hình
thức nào (như xóc đĩa, tá lả, tổ tôm, tú lơ khơ, số đề, cá độ bóng đá, đá
gà, đánh bài qua mạng...) với mục đích thua bằng tiền hoặc hiện vật.
- Điều kiện định tội (Dấu hiệu bắt
buộc): Không phải
mọi hành vi đánh bạc đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Hành vi chỉ cấu
thành tội phạm khi thỏa mãn một trong các điều kiện:
- Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc
trị giá từ 5.000.000 đồng trở lên.
- Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc
trị giá dưới 5.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp:
1. Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về
hành vi này hoặc hành vi tổ chức đánh bạc/gá bạc mà còn vi phạm.
2. Đã bị kết án về tội này hoặc tội tổ
chức đánh bạc/gá bạc, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
3. Chủ thể
của tội phạm
- Người có năng lực trách nhiệm
hình sự đầy đủ.
- Đạt độ tuổi từ đủ 16 tuổi
trở lên.
4. Mặt chủ
quan của tội phạm
- Lỗi: Cố ý trực tiếp. Người phạm tội
nhận thức rõ hành vi đánh bạc là trái phép nhưng vẫn thực hiện.
- Mục đích: Nhằm sát phạt nhau để thua bằng
tiền hoặc hiện vật.
Các khung
hình phạt chính
- Khoản 1: Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến
100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ
06 tháng đến 03 năm.
- Khoản 2 (Tình tiết tăng nặng): Phạt tù từ 03 năm đến 07 năm nếu
thuộc các trường hợp:
- Có tính chất chuyên nghiệp.
- Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc
trị giá 50.000.000 đồng trở lên.
- Sử dụng mạng internet, mạng máy
tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội.
- Tái phạm nguy hiểm.
Lưu ý
quan trọng về cách xác định số tiền đánh bạc
Theo Nghị
quyết của Hội đồng Thẩm phán TANDTC, tiền dùng đánh bạc bao gồm:
1.
Số
tiền hoặc hiện vật dùng để đánh bạc thu giữ được trực tiếp tại chiếu bạc.
2.
Số
tiền hoặc hiện vật thu giữ được trong người các con bạc mà có căn cứ xác định
dùng để đánh bạc.
3.
Số
tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc đang trên đường áp dụng để đánh bạc.
4.
Tiền
hoặc hiện vật dùng để đánh bạc ở các lần trước đó nếu có căn cứ xác định.
Một điểm
đáng lưu ý cho năm 2026: Các cơ quan chức năng hiện nay đang siết chặt việc xử lý hành vi đánh bạc
qua không gian mạng (Game bài đổi thưởng, cá độ qua app). Chỉ cần thực hiện
hành vi đặt cược trên môi trường mạng, người chơi đã có thể đối diện với khung
hình phạt tại Khoản 2 (từ 03 đến 07 năm tù) do sử dụng phương tiện điện tử.
___________________________
Bạn có muốn
tôi làm rõ sự khác biệt giữa "Tội đánh bạc" và "Tội tổ
chức đánh bạc hoặc gá bạc" (Điều 322) không?
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét