Điều 7. Hiệu lực của Bộ luật Hình sự về thời gian
1. Điều luật được áp dụng đối với một hành vi phạm tội là điều luật đang có hiệu lực thi hành tại thời điểm mà hành vi phạm tội được thực hiện.
2. Điều luật quy định một tội phạm mới, một hình phạt nặng hơn, một tình tiết tăng nặng mới hoặc hạn chế phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xóa án tích và quy định khác không có lợi cho người phạm tội, thì không được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành.
3. Điều luật xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng, quy định một hình phạt nhẹ hơn, một tình tiết giảm nhẹ mới hoặc mở rộng phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, tha tù trước thời hạn có điều kiện, xóa án tích và quy định khác có lợi cho người phạm tội, thì được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành.
DẤU HIỆU PHÁP LÝ :
3.2.3.2. Hiệu lực về thời gian của Bộ luật Hình sự Việt Nam
Hiệu lực về thời gian của Bộ luật Hình sự là việc xác định thời điểm bắt đầu phát sinh và thời điểm chấm dứt
hiệu lực của Bộ luật Hình
sự Việt Nam. Vấn đề hiệu lực về
thời gian của Bộ luật Hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015: “Điều luật được
áp dụng đối với một hành vi
phạm tội là điều luật đang có hiệu lực thi hành tại thời điểm mà hành vi phạm tội được thực
hiện”.
Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội hướng dẫn về việc thi hành Bộ luật
Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ
sung năm 2017: Kể từ ngày 01/01/2018, thì tất cả các điều khoản của Bộ luật Hình sự năm 2015 được áp
dụng để khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án đối với người thực hiện hành vi phạm tội từ 0 giờ 00 phút ngày 01/01/2018.
Phân tích các quy định nêu trên cho thấy, khi áp dụng hiệu lực
về thời gian của Bộ luật Hình sự cần phải
xác định được hai mốc thời điểm:
Một là: thời điểm mà Bộ luật Hình sự đang có hiệu lực. Theo
quy định tại Nghị quyết
số 41/2017/QH14 của Quốc hội thì Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 bắt đầu có hiệu
lực từ ngày 01/01/2018.
Hai là: thời điểm tội phạm được thực hiện. Bộ luật Hình sự
năm 2015 chỉ được áp dụng
đối với những tội phạm thực hiện từ ngày 01/01/2018 trở về sau. Hay nói cách khác là mọi hành vi phạm
tội được thực hiện từ 0 giờ
00 phút ngày 01/01/2018 (đây cũng là thời điểm mà Bộ luật Hình sự bắt đầu có hiệu lực) trở về sau đều phải
áp dụng Bộ luật Hình sự năm
2015.
3.2.3.3. Vấn đề
hiệu lực hồi tố của Bộ luật Hình sự Việt Nam
Khi phân tích khoản 1 Điều 7 Bộ
luật Hình sự năm 2015 và hướng dẫn tại Nghị quyết số 41/2017/QH14 cho thấy, mọi
hành vi phạm tội thực hiện từ 0 giờ 00 phút ngày 01/01/2018 trở về sau đều phải
áp dụng Bộ luật Hình sự năm 2015 để xử lý. Một câu hỏi đặt ra ở đây, đối với những
hành vi phạm tội thực hiện trước ngày 01/01/2018 mà sau thời điểm này mới bị
đưa ra xử lý thì phải áp dụng Bộ luật Hình sự nào?. Nếu trong trường hợp
này được phép áp dụng Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử lý người
thực hiện hành vi phạm tội đó thì theo Điều 152 Luật Ban hành văn bản quy phạm
pháp luật năm 2015 gọi là trường hợp phát sinh hiệu lực trở về trước của
văn bản quy phạm pháp luật, mà trong lĩnh vực chuyên ngành khoa học luật hình sự
gọi là trường hợp được áp dụng hiệu lực hồi tố.
Cụ thể hơn:
- Khoản 2 Điều 7 Bộ luật Hình sự
năm 2015 quy định: “Điều luật quy định một tội phạm mới, một hình phạt nặng
hơn, một tình tiết tăng nặng mới hoặc hạn chế phạm vi áp dụng án treo, miễn
trách nhiệm hình sự, loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt,
xóa án tích và quy định khác không có lợi cho người phạm tội, thì không được áp
dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực
thi hành”.
- Điểm c khoản 1 Điều 2 Nghị quyết
số 41/2017/QH14 quy định về việc áp dụng Bộ luật Hình sự năm 2015: “các điều luật
bổ sung hành vi phạm tội mới, các điều luật quy định một hình phạt mới, một
hình phạt nặng hơn, một tình tiết tăng nặng mới; các điều luật quy định hạn chế
phạm vi miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xóa án tích
và các quy định khác không có lợi cho người phạm tội thì không áp dụng đối với
những hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018 mà
sau thời điểm đó mới bị phát hiện, đang bị điều tra, truy tố, xét xử hoặc đối với
người đang được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, xóa án tích; trong trường
hợp này, vẫn áp dụng quy định tương ứng của các văn bản quy phạm pháp luật về
hình sự có hiệu lực trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018 để giải quyết”.
Điều luật đã khẳng định một cách
cụ thể, rõ ràng, điều luật bất lợi cho người phạm tội không có hiệu lực (không
được áp dụng) đối với hành vi được thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực
thi hành. Từ đó có thể khẳng định rằng, quy định tại khoản 2 Điều 7 Bộ luật
Hình sự năm 2015 không được phép áp dụng hiệu lực hồi tố (trường hợp này phải
áp dụng Bộ luật Hình sự trước đó - là Bộ luật Hình sự đang có hiệu lực thi hành
tại thời điểm tội phạm xảy ra) khi thỏa mãn đầy đủ ba điều kiện sau:
Một là, tội phạm
xảy ra ở thời điểm Bộ luật Hình sự ban hành trước (Bộ luật Hình sự năm 1999)
đang có hiệu lực pháp luật.
Hai là, thời
điểm xử lý hành vi phạm tội thì Bộ luật Hình sự mới (Bộ luật Hình sự năm 2015)
ra đời và đang có hiệu lực pháp luật.
Ba là, quy định
của Bộ luật Hình sự mới theo hướng bất lợi hơn cho người phạm tội như quy định
một tội phạm mới, một hình phạt nặng hơn, một tình tiết tăng nặng mới; các điều
luật quy định hạn chế phạm vi miễn trách nhiệm hình sự. Tội phạm mới như tội sử
dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm (Điều 147), tội mua bán, chiếm
đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người (Điều 154). Các tội phạm này không được áp dụng
đối với hành vi xảy ra trước ngày 01/01/2018.
- Khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự
năm 2015 quy định: “Điều luật xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết
tăng nặng, quy định một hình phạt nhẹ hơn, một tình tiết giảm nhẹ mới hoặc mở rộng
phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, loại trừ trách nhiệm hình sự,
miễn hình phạt, giảm hình phạt, tha tù trước thời hạn có điều kiện, xóa án tích
và quy định khác có lợi cho người phạm tội, thì được áp dụng đối với hành vi phạm
tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành”.
Khác với khoản 2 nêu trên, khoản
3 Điều 7 của Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định có lợi cho người phạm tội được
áp dụng (có hiệu lực) đối với hành vi được thực hiện trước khi điều luật đó có
hiệu lực thi hành. Nói cách khác, khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015 cho
phép áp dụng hiệu lực hồi tố (bởi trường hợp này phải áp dụng Bộ luật Hình sự mới
là Bộ luật Hình sự năm 2015 để xử lý những hành vi phạm tội đã xảy ra trước khi
nó được ban hành) khi thỏa mãn đầy đủ ba điều kiện sau:
+ Tội phạm xảy ra ở thời điểm Bộ
luật Hình sự ban hành trước (Bộ luật Hình sự năm 1999) đang có hiệu lực pháp luật.
+ Thời điểm xử lý hành vi phạm tội
thì Bộ luật Hình sự mới (Bộ luật Hình sự năm 2015) ra đời và đang có hiệu lực
pháp luật.
+ Quy định của Bộ luật Hình sự mới
theo hướng có lợi hơn cho người phạm tội như xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt,
một tình tiết tăng nặng, quy định một hình phạt nhẹ hơn, một tình tiết giảm nhẹ
mới...
Ví dụ, Bộ luật Hình sự năm 2015
xóa bỏ tội hoạt động phỉ, tội đăng ký kết hôn trái pháp luật, thì những hành vi
phạm tội này đã thực hiện trước ngày 01/01/2018 mà sau ngày này mới bị phát hiện
thì không bị xử lý hình sự, do áp dụng nguyên tắc hiệu lực hồi tố; hoặc khoản 2
Điều 40 Bộ luật Hình sự năm 2015 bổ sung một loại đối tượng không bị áp dụng
hình phạt tử hình là người đủ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi xét xử, đây
là quy định theo hướng có lợi cho người phạm tội thì được phép áp dụng hiệu lực
hồi tố.
Chú ý: trường hợp điều luật trong
văn bản pháp luật mới và văn bản pháp luật cũ không thay đổi thì áp dụng điều
luật của văn bản mới để xét xử hành vi phạm tội thực hiện trước khi văn bản mới
có hiệu lực.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét