Thứ Sáu, 8 tháng 12, 2023

Điều 29. Căn cứ miễn trách nhiệm hình sự【BLHS năm 2015 và Sửa đổi, bổ sung 2017】

Điều 29. Căn cứ miễn trách nhiệm hình sự

1. Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong những căn cứ sau đây:

a) Khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do có sự thay đổi chính sách, pháp luật làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa;

b) Khi có quyết định đại xá.

2. Người phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong các căn cứ sau đây:

a) Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy him cho xã hội nữa;

b) Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử, người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đến không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa;

c) Trước khi hành vi phạm tội bị phát giác,9 người phạm tội tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm và lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước và xã hội thừa nhận.

3. Người thực hiện tội phạm nghiêm trọng do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng10 gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác, đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả11và được người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp12của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự.

(trích BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017)

DẤU HIỆU PHÁP LÝ :

Theo Điều 29 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về các căn cứ miễn trách nhiệm hình sự (TNHS).

Có thể phân tích các nhóm căn cứ này như sau:

1. Nhóm căn cứ đương nhiên được miễn (Khoản 1)

Người phạm tội được miễn TNHS trong các trường hợp mang tính khách quan từ phía chính sách của Nhà nước:

  • Thay đổi chính sách, pháp luật: Khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, nếu pháp luật thay đổi làm cho hành vi đó không còn bị coi là tội phạm hoặc không còn nguy hiểm cho xã hội.
  • Đại xá: Khi có quyết định đại xá từ Quốc hội đối với một loại tội phạm hoặc một nhóm đối tượng cụ thể.

2. Nhóm căn cứ có thể được miễn (Khoản 2)

Trong các trường hợp này, cơ quan tố tụng có quyền xem xét để miễn TNHS dựa trên đặc điểm của người phạm tội:

  • Chuyển biến của tình hình: Khiến người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa (ví dụ: tội phạm xảy ra trong bối cảnh đặc thù mà nay bối cảnh đó đã chấm dứt hoàn toàn).
  • Mắc bệnh hiểm nghèo: Dẫn đến không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội.
  • Tự thú và lập công lớn: Trước khi bị phát giác, người phạm tội tự thú, khai rõ sự việc, góp phần đắc lực vào việc điều tra, hạn chế hậu quả và có cống hiến đặc biệt được Nhà nước thừa nhận.

3. Nhóm căn cứ dành cho tội ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng do vô ý (Khoản 3)

Đây là quy định mang tính nhân văn, khuyến khích sự hòa giải tại cộng đồng:

  • Điều kiện áp dụng: Tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng do vô ý.
  • Hành vi khắc phục: Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả.
  • Ý chí của người bị hại: Được người bị hại (hoặc người đại diện) tự nguyện hòa giải và có văn bản đề nghị miễn trách nhiệm hình sự.

Lưu ý về hệ quả pháp lý: Như đã phân tích ở phần trước, người được miễn TNHS theo Điều 29 sẽ không bị coi là có án tích. Điều này khác hoàn toàn với việc "miễn hình phạt" (vẫn có tội và vẫn có án tích). Đây là chính sách hình sự quan trọng nhằm tạo điều kiện cho những người có sai phạm không còn nguy hiểm hoặc đã tích cực chuộc lỗi được sớm ổn định cuộc sống.

Luật Gia Vlog - Kiettan Nguyen-tổng hợp & phân tích
VIDEO :
(đang cập nhật)
TÀI LIỆU THAM KHẢO :
(đang cập nhật)
VĂN BẢN LIÊN QUAN :
(đang cập nhật)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét