Thứ Sáu, 8 tháng 12, 2023

Điều 2. Cơ sở của trách nhiệm hình sự【BLHS năm 2015 và Sửa đổi, bổ sung 2017】

Điều 2. Cơ sở của trách nhiệm hình sự

1. Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật Hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự.

2. Chỉ pháp nhân thương mại nào phạm một tội đã được quy định tại Điều 76 của Bộ luật này mới phải chịu trách nhiệm hình sự.

DẤU HIỆU PHÁP LÝ :

Cơ sở của trách nhiệm hình sự?

====================

Trong khoa học luật hình sự Việt Nam, Cơ sở của trách nhiệm hình sự (TNHS) được xem xét dưới hai góc độ: Cơ sở pháp lý (văn bản quy phạm pháp luật) và Cơ sở thực tế (hành vi xảy ra trên thực tế).

Sự kết hợp chặt chẽ giữa hai yếu tố này chính là điều kiện cần và đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự một chủ thể.

1. Cơ sở pháp lý của Trách nhiệm hình sự

Cơ sở pháp lý quy định tối cao ai là người phải chịu trách nhiệm hình sự. Theo Điều 2 Bộ luật Hình sự (BLHS), cơ sở này được phân định rõ ràng cho hai nhóm chủ thể:

  • Đối với cá nhân (Khoản 1): Chỉ người nào phạm một tội đã được BLHS quy định mới phải chịu TNHS.
  • Đối với pháp nhân thương mại (Khoản 2): Chỉ pháp nhân thương mại nào phạm một tội đã được quy định cụ thể tại Điều 76 BLHS mới phải chịu TNHS.

Ý nghĩa: Đây là sự cụ thể hóa nguyên tắc pháp trị "Không có tội nếu luật không quy định" (Nullum crimen,nulla poena sine lege). Cơ quan tiến hành tố tụng không được phép tự ý suy diễn hay áp dụng tương tự pháp luật để khép tội một hành vi nếu BLHS chưa có quy định.

2. Cơ sở thực tế của Trách nhiệm hình sự

Nếu cơ sở pháp lý là văn bản luật, thì cơ sở thực tế chính là hành vi nguy hiểm cho xã hội xảy ra trên đời thực.

Cơ sở thực tế duy nhất của TNHS là hành vi khách quan có đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm được quy định trong BLHS. Một cấu thành tội phạm hoàn chỉnh bắt buộc phải hội tụ đủ 4 yếu tố:

  • Khách thể của tội phạm: Là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ nhưng bị hành vi phạm tội xâm hại (ví dụ: tính mạng, sức khỏe, quyền sở hữu tài sản...).
  • Mặt khách quan của tội phạm: Những biểu hiện ra bên ngoài thế giới khách quan, bao gồm: hành vi nguy hiểm cho xã hội (yếu tố bắt buộc), hậu quả tác hại và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả.
  • Chủ thể của tội phạm: Là con người cụ thể (có năng lực TNHS và đạt độ tuổi theo quy định) hoặc pháp nhân thương mại (có năng lực pháp luật hình sự) thực hiện hành vi.
  • Mặt chủ quan của tội phạm: Diễn biến tâm lý bên trong của chủ thể, bao gồm lỗi (lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý), động cơ và mục đích phạm tội.

Mối quan hệ biện chứng

Cơ sở pháp lý và cơ sở thực tế luôn là hai mặt không thể tách rời:

1.     Nếu một người thực hiện hành vi gây hậu quả cực kỳ nghiêm trọng (thực tế) nhưng hành vi đó hoàn toàn chưa được quy định trong BLHS (pháp lý) --> Không có cơ sở để truy cứu TNHS.

2.     Ngược lại, luật có quy định tội danh đó (pháp lý) nhưng một người chỉ mới dừng lại ở suy nghĩ, chưa thực hiện hành vi khách quan nào hoặc hành vi của họ không thỏa mãn đầy đủ cả 4 yếu tố cấu thành tội phạm (thực tế) --> Cũng không thể truy cứu TNHS.

Luật Gia Vlog - Kiettan Nguyen-tổng hợp & phân tích
TÀI LIỆU THAM KHẢO :

Câu hỏi ôn tập:

    1. Trình bày khái niệm LUẬT HÌNH SỰ ?>>>xem đáp án
    2. Trình bày các nguyên tắc của LUẬT HÌNH SỰ ?>>>xem đáp án
    3. Trình bày nhiệm vụ của LUẬT HÌNH SỰ ?>>>xem đáp án
    4. Trình bày lịch sử hình thành và phát triển của LUẬT HÌNH SỰ Việt nam từ sau Cách mạng Tháng tám năm 1945 đến nay?>>>xem đáp án
    5. Trình bày các nội dung cơ bản của khoa học LUẬT HÌNH SỰ ?>>>xem đáp án

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét