Thứ Năm, 7 tháng 12, 2023

Điều 133. Tội đe dọa giết người【BLHS năm 2015 và Sửa đổi, bổ sung 2017】

Điều 133. Tội đe dọa giết người

1. Người nào đe dọa giết người, nếu có căn cứ làm cho người bị đe dọa lo sợ rằng việc đe dọa này sẽ được thực hiện, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Đối với 02 người trở lên;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;

d) Đối với người dưới 16 tuổi;

đ) Để che giấu hoặc trốn tránh việc bị xử lý về một tội phạm khác.

(trích BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017)

DẤU HIỆU PHÁP LÝ :

Tội đe dọa giết người được quy định tại Điều 133 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017). Đây là loại tội phạm có tính chất đặc biệt vì hành vi phạm tội chưa gây ra hậu quả chết người trên thực tế nhưng gây ra tác động tâm lý cực kỳ nghiêm trọng.

Dưới đây là các dấu hiệu pháp lý chi tiết:

1. Khách thể của tội phạm

  • Đối tượng tác động: Sự an toàn về tâm lý, tư tưởng của con người.
  • Quan hệ xã hội bị xâm hại: Quyền được bảo hộ về tính mạng và quyền được sống trong sự an tâm, không bị đe dọa.
  • Lưu ý: Tội này không trực tiếp xâm phạm tính mạng (vì nạn nhân chưa chết), mà xâm phạm đến sự ổn định về tinh thần của nạn nhân.

2. Mặt khách quan của tội phạm

  • Hành vi khách quan: Người phạm tội có hành vi làm cho người khác lo sợ rằng mình sẽ bị giết.
    • Hình thức thể hiện: Bằng lời nói (trực tiếp hoặc qua điện thoại), bằng văn bản (thư từ, tin nhắn), bằng cử chỉ (giơ súng, mài dao trước mặt), hoặc các hành động gián tiếp khác.
    • Nội dung: Thông điệp thể hiện ý định tước đoạt tính mạng của nạn nhân.
  • Điều kiện cần và đủ: Hành vi đe dọa phải có căn cứ làm cho người bị đe dọa lo sợ rằng việc đe dọa này sẽ được thực hiện.
    • Việc đánh giá "có căn cứ" dựa trên: Hoàn cảnh xảy ra, thời điểm, địa điểm, nhân thân người đe dọa, công cụ sử dụng (súng, dao thật...), và mối quan hệ giữa hai bên.
    • Nếu lời đe dọa chỉ là lời nói suông trong lúc nóng giận mà người nghe không cảm thấy tính mạng thực sự bị đe dọa, thì không cấu thành tội này.

3. Mặt chủ quan của tội phạm

  • Lỗi: Là lỗi cố ý.
    • Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình sẽ làm cho nạn nhân lo sợ và mong muốn nạn nhân rơi vào trạng thái tâm lý đó.
  • Mục đích: Làm cho nạn nhân lo sợ.
    • Nếu người phạm tội đe dọa nhằm mục đích khác (như để chiếm đoạt tài sản) thì sẽ cấu thành tội danh khác (ví dụ: Tội cướp tài sản hoặc Tội cưỡng đoạt tài sản).

4. Chủ thể của tội phạm

  • Là người từ đủ 16 tuổi trở lên có năng lực trách nhiệm hình sự.
  • Người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này (vì đây không thuộc nhóm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng do người dưới 16 tuổi thực hiện theo Điều 12 BLHS).

5. Hình phạt (Điều 133)

  • Khoản 1: Phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
  • Khoản 2: Phạt tù từ 02 năm đến 07 năm nếu thuộc một trong các trường hợp:
    • Đối với 02 người trở lên.
    • Lợi dụng chức vụ, quyền hạn.
    • Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.
    • Đối với người dưới 18 tuổi.
    • Để che giấu hoặc trốn tránh việc bị xử lý về một tội phạm khác.

Phân biệt với Tội giết người (Giai đoạn chuẩn bị)

  • Đe dọa giết người: Mục đích dừng lại ở việc làm nạn nhân lo sợ. Người phạm tội có thể không có ý định giết người thật sự.
  • Chuẩn bị giết người: Người phạm tội đã có ý định giết người và đang chuẩn bị công cụ, phương tiện hoặc điều kiện để thực hiện hành vi tước đoạt tính mạng.

Mình đã đi qua một loạt các tội danh xâm phạm tính mạng (từ Điều 128 đến 133). Bạn có muốn mình lập một bảng so sánh tổng hợp các tội này để phục vụ việc ôn tập hoặc tra cứu nhanh không?

Luật Gia Vlog - Kiettan Nguyen-tổng hợp & phân tích
VIDEO :
(đang cập nhật)
TÀI LIỆU THAM KHẢO :
(đang cập nhật)
VĂN BẢN LIÊN QUAN :
(đang cập nhật)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét