1. Người bị kết án được xóa án tích theo quy
định tại các điều từ Điều 70 đến Điều 73 của Bộ luật này.
Người được xóa án tích coi như chưa bị kết
án.
2. Người bị kết án do lỗi vô ý về tội phạm ít
nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và người được miễn hình phạt không bị coi
là có án tích.
Điều 70. Đương nhiên được xóa án tích
1. Đương nhiên được xóa án tích được áp dụng
đối với người bị kết án không phải về các tội quy định tại Chương XIII và
Chương XXVI của Bộ luật này khi họ đã chấp hành xong hình phạt chính, thời
gian thử thách án treo hoặc hết thời hiệu thi hành bản án và đáp ứng các điều
kiện quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này.
2. Người bị kết án đương nhiên được xóa án
tích, nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách
án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của
bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau đây:
a) 01 năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo,
phạt tiền, cải tạo không giam giữ, phạt tù nhưng được hưởng án treo;
b) 02 năm trong trong trường hợp bị phạt tù
đến 05 năm;
c) 03 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên
05 năm đến 15 năm;
d) 05 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên
15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án.
Trường hợp người bị kết án đang chấp hành
hình phạt bổ sung là quản chế, cấm cư trú, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành
nghề hoặc làm công việc nhất định, tước một số quyền công dân mà thời hạn
phải chấp hành dài hơn thời hạn quy định tại các điểm a, b và c khoản này thì
thời hạn đương nhiên được xóa án tích sẽ hết vào thời điểm người đó chấp hành
xong hình phạt bổ sung.
3. Người bị kết án đương nhiên được xóa án
tích, nếu từ khi hết thời hiệu thi hành bản án, người đó không thực hiện hành
vi phạm tội mới trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này.
4. Cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư
pháp có trách nhiệm cập nhật thông tin về tình hình án tích của người bị kết án
và khi có yêu cầu thì cấp phiếu lý lịch tư pháp xác nhận không có án tích, nếu
có đủ điều kiện quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều này.
Điều 71. Xóa án tích theo quyết định của Tòa
án[29]
1. Xóa án tích theo quyết định của Tòa án
được áp dụng đối với người bị kết án về một trong các tội quy định tại Chương
XIII và Chương XXVI của Bộ luật này. Tòa án quyết định việc xóa án tích đối
với người bị kết án căn cứ vào tính chất của tội phạm đã thực hiện, thái độ
chấp hành pháp luật, thái độ lao động của người bị kết án và các điều kiện quy
định tại khoản 2 Điều này.
2. Người bị kết án được Tòa án quyết định
việc xóa án tích, nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian
thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết
định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn
sau đây:
a) 01 năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo,
phạt cải tạo không giam giữ, phạt tù nhưng được hưởng án treo;
b) 03 năm trong trường hợp bị phạt tù đến 05
năm;
c) 05 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên
05 năm đến 15 năm;
d) 07 năm trong trường hợp bị phạt tù trên 15
năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án.
Trường hợp người bị kết án đang chấp hành
hình phạt bổ sung là quản chế, cấm cư trú, tước một số quyền công dân mà thời
hạn phải chấp hành dài hơn thời hạn quy định tại điểm a, điểm b khoản này thì
Tòa án quyết định việc xóa án tích từ khi người đó chấp hành xong hình phạt bổ
sung.
3. Người bị Tòa án bác đơn xin xóa án tích
lần đầu, thì sau 01 năm kể từ ngày bị Tòa án bác đơn mới được xin xóa án tích;
nếu bị bác đơn lần thứ hai trở đi, thì sau 02 năm kể từ ngày bị Tòa án bác đơn
mới được xin xóa án tích.
Điều 72. Xóa án tích trong trường hợp đặc
biệt
Trong trường hợp người bị kết án có những
biểu hiện tiến bộ rõ rệt và đã lập công, được cơ quan, tổ chức nơi người đó
công tác hoặc chính quyền địa phương nơi người đó cư trú đề nghị, thì Tòa án
quyết định việc xóa án tích nếu người đó đã bảo đảm được ít nhất một phần ba
thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 70 và khoản 2 Điều 71 của Bộ
luật này.
Điều 73. Cách tính thời hạn để xóa án tích
1. Thời hạn để xóa án tích quy định tại Điều 70 và Điều 71 của Bộ luật này căn cứ vào hình phạt chính
đã tuyên.
2. Người bị kết án chưa được xóa án tích mà
thực hiện hành vi phạm tội mới và bị Tòa án kết án bằng bản án có hiệu lực
pháp luật thì thời hạn để xóa án tích cũ được tính lại kể từ ngày chấp hành
xong hình phạt chính hoặc thời gian thử thách án treo của bản án mới hoặc từ
ngày bản án mới hết thời hiệu thi hành.
3. Người bị kết án trong trường hợp phạm
nhiều tội mà có tội thuộc trường hợp đương nhiên được xóa án tích, có tội thuộc
trường hợp xóa án tích theo quyết định của Tòa án thì căn cứ vào thời hạn quy
định tại Điều 71 của Bộ luật này Tòa án quyết định việc xóa
án tích đối với người đó.
4. Người được miễn chấp hành phần hình phạt
còn lại cũng được coi như đã chấp hành xong hình phạt.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét