1. Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội
được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự
hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập,
chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị,
chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội,
quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích
hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã
hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự.
2. Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội
phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội
phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác.
1. Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm
cho xã hội của hành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật này, tội phạm được
phân thành 04 loại sau đây:
a) Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có
tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung
hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo
không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm;
b) Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có tính
chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt
do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 03 năm tù đến 07 năm tù;
c) Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có
tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà mức cao nhất của khung
hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 07 năm tù đến 15
năm tù;
d) Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm
có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của
khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm tù
đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.
2. Tội phạm do pháp nhân thương mại thực hiện
được phân loại căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi
phạm tội theo quy định tại khoản 1 Điều này và quy định tương ứng đối với các
tội phạm được quy định tại Điều 76 của Bộ luật này.
Cố ý phạm tội là phạm tội trong những trường
hợp sau đây:
1. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của
mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn
hậu quả xảy ra;
2. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của
mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy
ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.
Vô ý phạm tội là phạm tội trong những trường
hợp sau đây:
1. Người phạm tội tuy thấy trước hành vi
của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ
không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được;
2. Người phạm tội không thấy trước hành vi
của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và
có thể thấy trước hậu quả đó.
Điều 12. Tuổi chịu trách nhiệm hình sự
1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu
trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy
định khác.
2.[6] Người từ đủ 14 tuổi đến
dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội
phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123,
134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171,
173, 178, 248, 249, 250,
251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và
304 của Bộ luật này.
Điều 13. Phạm tội do dùng rượu, bia hoặc chất
kích thích mạnh khác
Người phạm tội trong tình trạng mất khả năng
nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình do dùng rượu, bia hoặc
chất kích thích mạnh khác, thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự.
1. Chuẩn bị phạm tội là tìm kiếm, sửa soạn
công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm
hoặc thành lập, tham gia nhóm tội phạm, trừ trường hợp thành lập hoặc tham gia
nhóm tội phạm quy định tại Điều 109, điểm a khoản 2 Điều 113
hoặc điểm a khoản 2 Điều 299 của Bộ luật này.
2. Người chuẩn bị phạm tội quy định tại một
trong các điều 108, 109, 110, 111, 112, 113, 114, 115, 116,
117, 118, 119, 120, 121, 123, 134, 168, 169, 207,
299, 300, 301, 302, 303 và 324 của Bộ
luật này thì phải chịu trách nhiệm hình sự.
3. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi
chuẩn bị phạm tội quy định tại Điều 123, Điều 168 của Bộ luật
này thì phải chịu trách nhiệm hình sự.
Phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm
nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người
phạm tội.
Người phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm
hình sự về tội phạm chưa đạt.
Điều 16. Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm
tội
Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là tự
mình không thực hiện tội phạm đến cùng, tuy không có gì ngăn cản.
Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội
được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm; nếu hành vi thực tế đã thực
hiện có đủ yếu tố cấu thành của một tội khác, thì người đó phải chịu trách
nhiệm hình sự về tội này.
1. Đồng phạm là trường hợp có hai người trở
lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.
2. Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm
có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm.
3. Người đồng phạm bao gồm người tổ chức,
người thực hành, người xúi giục, người giúp sức.
Người thực hành là người trực tiếp thực hiện
tội phạm.
Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ
huy việc thực hiện tội phạm.
Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ,
thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm.
Người giúp sức là người tạo điều kiện tinh
thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm.
4. Người đồng phạm không phải chịu trách
nhiệm hình sự về hành vi vượt quá của người thực hành.
1. Người nào không hứa hẹn trước, nhưng sau
khi biết tội phạm được thực hiện đã che giấu người phạm tội, dấu vết, tang
vật của tội phạm hoặc có hành vi khác cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý
người phạm tội, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội che giấu tội phạm
trong những trường hợp mà Bộ luật này quy định.
2. Người che giấu tội phạm là ông, bà, cha,
mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội không phải
chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp che
giấu các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng khác quy
định tại Điều 389 của Bộ luật này.
Điều 19. Không tố giác tội phạm[8]
1. Người nào biết rõ tội phạm đang được chuẩn
bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, thì phải chịu
trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm quy định tại Điều
390 của Bộ luật này.
2. Người không tố giác là ông, bà, cha, mẹ,
con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội không phải chịu
trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp không tố
giác các tội quy định tại Chương XIII của Bộ luật này hoặc tội khác là tội phạm
đặc biệt nghiêm trọng.
3. Người không tố giác là người bào chữa
không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ
trường hợp không tố giác các tội quy định tại Chương XIII của Bộ luật này hoặc
tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do chính người mà mình bào chữa đang
chuẩn bị, đang thực hiện hoặc đã thực hiện mà người bào chữa biết rõ khi thực
hiện việc bào chữa.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét