Điều 1. Nhiệm vụ của Bộ luật Hình sự
Bộ luật Hình sự có nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền
quốc gia, an ninh của đất nước, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền con
người, quyền công dân, bảo vệ quyền bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc, bảo vệ
lợi ích của Nhà nước, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật, chống mọi hành vi
phạm tội; giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, phòng ngừa và đấu
tranh chống tội phạm.
Bộ luật này quy định về tội phạm và hình
phạt.
Điều 2. Cơ sở của trách nhiệm hình sự
1. Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật
Hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự.
2. Chỉ pháp nhân thương mại nào phạm một tội
đã được quy định tại Điều 76 của Bộ luật này mới phải chịu
trách nhiệm hình sự.
1. Đối với người phạm tội:
a) Mọi hành vi phạm tội do người thực hiện
phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật;
b) Mọi người phạm tội đều bình đẳng trước
pháp luật, không phân biệt giới tính, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành
phần, địa vị xã hội;
c) Nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, chỉ
huy, ngoan cố chống đối, côn đồ, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ, quyền
hạn để phạm tội;
d)[3] Nghiêm trị người phạm
tội dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây
hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
Khoan hồng đối với người tự thú, đầu thú,
thành khẩn khai báo, tố giác đồng phạm, lập công chuộc tội, tích cực hợp tác
với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình
giải quyết vụ án, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại
gây ra;
đ) Đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm
trọng, thì có thể áp dụng hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù, giao họ cho cơ quan,
tổ chức hoặc gia đình giám sát, giáo dục;
e) Đối với người bị phạt tù thì buộc họ phải
chấp hành hình phạt tại các cơ sở giam giữ, phải lao động, học tập để trở
thành người có ích cho xã hội; nếu họ có đủ điều kiện do Bộ luật này quy định,
thì có thể được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, tha tù trước thời hạn
có điều kiện;
g) Người đã chấp hành xong hình phạt được
tạo điều kiện làm ăn, sinh sống lương thiện, hòa nhập với cộng đồng, khi có đủ
điều kiện do luật định thì được xóa án tích.
2. Đối với pháp nhân thương mại phạm tội:
a) Mọi hành vi phạm tội do pháp nhân thương
mại thực hiện phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo
đúng pháp luật;
b) Mọi pháp nhân thương mại phạm tội đều bình
đẳng trước pháp luật, không phân biệt hình thức sở hữu và thành phần kinh tế;
c) Nghiêm trị pháp nhân thương mại phạm tội
dùng thủ đoạn tinh vi, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả đặc biệt
nghiêm trọng;
d)[4] Khoan hồng đối với
pháp nhân thương mại tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc
phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án, tự nguyện sửa chữa,
bồi thường thiệt hại gây ra, chủ động ngăn chặn hoặc khắc phục hậu quả xảy ra.
Điều 4. Trách nhiệm phòng ngừa và đấu tranh
chống tội phạm
1. Cơ quan Công an, Viện kiểm sát nhân dân,
Tòa án nhân dân và các cơ quan hữu quan khác có trách nhiệm thực hiện đầy đủ
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, đồng thời hướng dẫn, giúp đỡ các cơ
quan khác của Nhà nước, tổ chức, cá nhân phòng ngừa và đấu tranh chống tội
phạm, giám sát và giáo dục người phạm tội tại cộng đồng.
2. Cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ giáo dục
những người thuộc quyền quản lý của mình nâng cao cảnh giác, ý thức bảo vệ và
tuân theo pháp luật, tôn trọng các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa; kịp
thời có biện pháp loại trừ nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm trong cơ
quan, tổ chức của mình.
3. Mọi công dân có nghĩa vụ tích cực tham gia
phòng, chống tội phạm.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét