Điều 295. Tội vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở nơi đông người 297
1. Người nào vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở nơi đông người gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;
d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:
a) Làm chết 02 người;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;
c) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng;
d) Là người có trách nhiệm về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở nơi đông người.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 năm đến 12 năm:
a) Làm chết 03 người trở lên;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;
c) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.
4. Vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở nơi đông người trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả quy định tại một trong các điểm a, b và c khoản 3 Điều này nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
DẤU HIỆU PHÁP LÝ :
Tội vi phạm
quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở nơi đông người tại
Điều 295 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) là một tội danh có
cấu thành vật chất điển hình, bảo vệ quyền được đảm bảo an toàn về tính mạng và
sức khỏe của con người trong quá trình lao động và sinh hoạt cộng đồng.
Dưới đây là
4 dấu hiệu pháp lý cơ bản của tội danh này:
1. Khách
thể của tội phạm
Tội phạm này
xâm phạm vào trật tự, an toàn công cộng, cụ thể là các quy định của Nhà
nước về an toàn lao động, vệ sinh lao động và an toàn tại những nơi tập trung
đông người.
- Đối tượng bị xâm phạm trực tiếp: Tính mạng, sức khỏe và tài sản
của người lao động hoặc những người có mặt tại nơi đông người.
2. Mặt
khách quan của tội phạm
Đây là dấu
hiệu quan trọng nhất để phân biệt với các tội danh khác.
- Hành vi: Vi phạm các quy định cụ thể
trong luật chuyên ngành (như Luật An toàn, vệ sinh lao động) hoặc các quy
tắc về an toàn tại nơi đông người (rạp hát, sân vận động, công viên...).
Vi phạm có thể thực hiện dưới dạng:
- Hành động: Thực hiện sai quy trình kỹ thuật,
không lắp đặt thiết bị che chắn, không trang bị bảo hộ...
- Không hành động: Không kiểm tra định kỳ thiết bị,
không phổ biến nội quy an toàn, không có phương án thoát hiểm.
- Hậu quả (Điều kiện cần): Hành vi chỉ bị xử lý hình sự
khi gây ra hậu quả sau:
- Làm chết người.
- Gây thương tích hoặc gây tổn hại
cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.
- Gây thương tích hoặc gây tổn hại
cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những
người này từ 61% đến 121%.
- Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000
đồng đến dưới 500.000.000 đồng.
- Mối quan hệ nhân quả: Phải chứng minh được hậu quả
(chết người, thương tích...) là kết quả trực tiếp từ hành vi vi phạm quy định
an toàn.
Lưu ý đặc
biệt (Khoản 4): Tội
này còn có cấu thành tội phạm đe dọa thực tế dẫn đến hậu quả nghiêm trọng
nếu không được ngăn chặn kịp thời (phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc
phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm).
3. Mặt chủ
quan của tội phạm
- Lỗi: Là lỗi vô ý (vô ý do cẩu
thả hoặc vô ý do quá tự tin).
- Người phạm tội tuy thấy trước
hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng
hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được.
- Hoặc người phạm tội không thấy
trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù
phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó.
4. Chủ thể
của tội phạm
- Là chủ thể thường: Người từ đủ
16 tuổi trở lên và có năng lực trách nhiệm hình sự.
- Thông thường trong thực tế, chủ
thể là những người có trách nhiệm trực tiếp trong việc đảm bảo an toàn
như: chủ sử dụng lao động, chỉ huy trưởng công trường, kỹ sư an toàn, người
quản lý khu vui chơi...
Khung
hình phạt cơ bản
|
Khung
|
Hình
phạt chính
|
Tình
tiết trọng yếu
|
|
Khoản 1
|
Phạt tiền
20 - 100 triệu, cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù 01 - 05 năm.
|
01 người
chết; Thương tích 61-121%; Thiệt hại tài sản 100 - <500 triệu.
|
|
Khoản 2
|
Phạt tù từ
03 năm đến 07 năm.
|
02 người
chết; Thương tích 122-200%; Thiệt hại tài sản 500 triệu - <1,5 tỷ.
|
|
Khoản 3
|
Phạt tù từ
06 năm đến 12 năm.
|
03 người
chết trở lên; Thương tích >201%; Thiệt hại tài sản >1,5 tỷ.
|
Một số
lưu ý cho người nghiên cứu:
Trong các vụ
án về an toàn lao động, việc xác định ai là người chịu trách nhiệm chính
thường rất phức tạp do sự chồng chéo giữa chủ đầu tư, nhà thầu chính và nhà thầu
phụ. Kết luận giám định về quy trình an toàn thường là "chìa khóa" để
giải quyết vụ án.
Với tư cách
là người nghiên cứu luật, bạn có muốn thảo luận thêm về cách phân định trách
nhiệm giữa Chủ sử dụng lao động và Người lao động khi tai nạn xảy
ra do lỗi hỗn hợp không?
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét